Bruce Wilson | [email protected]
Tóm tắt
Tháng 9 năm 2015, Liên Hợp Quốc (UN) đã thông qua Chương trình Nghị sự 2030, Chuyển đổi Thế giới của chúng ta. Mục tiêu 4 về Giáo dục đề cập đến tầm quan trọng của việc thúc đẩy học tập suốt đời. Kể từ năm 2020, Trung tâm European Union Centre of Excellence (tạm dịch: Trung tâm Xuất sắc Liên minh Châu Âu) tại RMIT đã triển khai dự án Mạng lưới Jean Monnet về “Đổi mới Xã hội và Khoa học nhằm đạt được các Mục tiêu Phát triển Bền vững (SDGs)”, quy tụ các nhà nghiên cứu từ Châu Âu, Singapore, Australia và New Zealand. Bruce Wilson trình bày vai trò thiết yếu của học tập trong việc thực hiện các Mục tiêu Phát triển Bền vững. Dự án Mạng lưới đã chứng minh rằng bản thân các quan hệ đối tác học tập cũng có thể mang tính đổi mới, thông qua việc khám phá những cách thức mới nhằm thúc đẩy các hình thức học tập tạo nền tảng cho các sáng kiến đổi mới ở quy mô rộng hơn.
Từ khóa: Học tập suốt đời, học tập không chính quy, Các Mục tiêu Phát triển Bền vững, Mạng lưới Jean Monnet
Giới thiệu
Tháng 9 năm 2015, Liên Hợp Quốc (UN) đã thông qua Chương trình Nghị sự 2030, Chuyển đổi Thế giới của chúng ta. Trọng tâm của chương trình là 17 Mục tiêu Phát triển Bền vững (SDGs), trong đó Mục tiêu 13 về hành động khí hậu được củng cố thêm tại Hội nghị Paris vào tháng 11 năm 2015.
Mục tiêu 4 về Giáo dục đề cập đến tầm quan trọng của việc thúc đẩy học tập suốt đời, điều mà nhiều Mục tiêu khác cũng thừa nhận, đặc biệt là các mục tiêu liên quan đến sức khỏe, đổi mới sáng tạo, hòa bình và công lý, cũng như vai trò của học tập đối với việc đạt được các chỉ tiêu cụ thể. Theo cách này, Chương trình Nghị sự 2030 là một sự khẳng định mạnh mẽ rằng học tập suốt đời cần được xem là một ưu tiên.
Kể từ năm 2020, Trung tâm Xuất sắc Liên minh Châu Âu tại RMIT đã triển khai dự án Mạng lưới Jean Monnet về “Đổi mới Xã hội và Khoa học nhằm đạt được các SDGs”, quy tụ các nhà nghiên cứu từ Châu Âu, Singapore, Australia và New Zealand. Dự án đã cho thấy nhiều nghiên cứu tình huống đa dạng về các sáng kiến xuất phát từ nhu cầu và điều kiện của địa phương, tất cả đều đóng góp theo cách này hay cách khác vào các kết quả mà Chương trình Nghị sự của Liên Hợp Quốc hướng tới. Mỗi trường hợp, dù khác nhau về hình thức, đều cho thấy vai trò thiết yếu của học tập trong việc đạt được bất kỳ Mục tiêu nào. Hơn nữa, dự án cũng cho thấy rằng bản thân các quan hệ đối tác học tập có thể mang tính đổi mới, thông qua việc khám phá các phương thức mới nhằm khuyến khích những hình thức học tập làm nền tảng cho các dự án đổi mới rộng lớn hơn.
Trong vài tháng tới, PIMA sẽ xuất bản một bản tin chuyên đề nhằm chia sẻ một số ví dụ tiêu biểu về những khía cạnh công việc hướng tới việc đạt được các SDGs. Bài viết này nhấn mạnh tầm quan trọng của các kết quả của Mạng lưới đối với học tập không chính quy, cũng như nhu cầu cần có sự vận động mạnh mẽ hơn để tầm quan trọng đó được công nhận.
Học tập định hướng địa phương nhưng mang tầm nhìn toàn cầu
Trong số các nghiên cứu tình huống được các thành viên Mạng lưới chia sẻ, có những ví dụ về đổi mới nông nghiệp được triển khai trong bối cảnh xung đột nghiêm trọng. Một số trường hợp khác diễn ra trong bối cảnh chuyển đổi bền vững, chẳng hạn như việc đóng cửa một nhà máy điện than hoặc chấm dứt khai thác rừng tự nhiên. Một số trường hợp khác nữa diễn ra tại các đô thị lớn, nơi các cách thức sản xuất và tiêu dùng được nhìn nhận và tổ chức lại.
Mặc dù bối cảnh rất khác nhau, song vẫn tồn tại một số chủ đề chung: tầm quan trọng của việc tập hợp các bên liên quan đa dạng, mỗi bên đều có những tri thức riêng biệt để chia sẻ; thách thức trong việc xây dựng sự hợp tác hiệu quả do sự khác biệt về loại hình tri thức, ưu tiên và nguồn lực; cũng như sự phong phú của các thương lượng diễn ra sau khi những trao đổi và thống nhất cần thiết để các cuộc đối thoại có thể diễn ra. Trong mỗi trường hợp, các cuộc đối thoại đã tạo ra những góc nhìn rộng mở hơn và tri thức mới. Trong một số trường hợp, có các chương trình hội thảo được thiết kế bài bản nhằm thúc đẩy các kết quả hiệu quả; trong những trường hợp khác, quá trình này diễn ra thông qua việc tập trung vào các địa điểm thực địa, cùng nhau quan sát các sự kiện cụ thể và đưa ra quyết định về cách thức hành động tiếp theo. Đây là những công dân và người lao động bình thường cùng hợp tác để tìm ra các chiến lược giải quyết những biểu hiện địa phương của các lực lượng toàn cầu.
Đó là những ví dụ về học tập có tổ chức nhưng diễn ra ngoài hệ thống giáo dục chính quy: được dẫn dắt bởi các điều phối viên chương trình, được xây dựng với sự tham gia của tất cả các bên liên quan, và bao gồm các quá trình đồng thiết kế và đánh giá, ngay cả khi có sự tham gia của những tri thức chuyên sâu. Ghi chú chương trình, slide thuyết trình và tài liệu nền có thể là một phần của quá trình này, trong đó các điều phối viên cũng đồng thời là người học. Tuy nhiên, ngay cả khi kéo dài trong nhiều tháng hoặc thậm chí nhiều năm, những ví dụ về học tập không chính quy này vẫn được ghi chép theo những cách thức rất khác nhau (nếu có), và người học tiếp thu những tri thức mới mang tính then chốt cho việc triển khai đổi mới nhưng không nhận được bất kỳ sự công nhận nào ngoài sự ghi nhận từ những đồng nghiệp cùng làm việc với họ.
Công nhận học tập không chính quy
Ở chừng mực mà Chương trình Nghị sự 2030 của Liên Hợp Quốc đề cập đến giáo dục, chủ yếu hướng tới việc hỗ trợ giáo dục chính quy, dù ở trường học và đại học, các cơ sở giáo dục thường xuyên hay những tổ chức có cấp văn bằng khác. Tuy nhiên, các phát hiện của Mạng lưới đã chứng minh tầm quan trọng của học tập suốt đời không chính quy. Nói cách khác, đó là hình thức học tập diễn ra trong bối cảnh cộng đồng, tổ chức hoặc các môi trường kết hợp, trong một bối cảnh cụ thể và thường có chương trình nghị sự khá rõ ràng. Loại hình học tập này thường diễn ra trong môi trường hợp tác, dựa trên trải nghiệm, có sự hỗ trợ, học hỏi lẫn nhau giữa các thành viên, và hướng đến việc đạt được các kết quả đổi mới xã hội hoặc công nghệ.
Dù ở các quốc gia phát triển như Australia hay Scotland, hay tại các nền kinh tế đang phát triển như Fiji, Philippines hoặc Bangladesh, học tập không chính quy đã được chứng minh là một phương thức then chốt để phát triển năng lực cần thiết giúp cộng đồng hướng tới một hoặc nhiều SDGs. Tuy nhiên, hình thức học tập này thường chưa được nhìn nhận đúng mức, được hỗ trợ bằng các nguồn lực mang tính tạm thời, chỉ được những người tham gia đánh giá cao, và ngay cả người học đôi khi cũng chưa nhận ra đầy đủ giá trị của quá trình học tập này.
Điều này không chỉ mang tính phân biệt đối xử, đặc biệt khi những nhóm dễ bị tổn thương là đối tượng tham gia dự án, mà còn dẫn đến sự xem nhẹ của công chúng đối với một phần quan trọng của những nỗ lực nhằm thực hiện các mục tiêu của Liên Hợp Quốc. Từ góc độ chính sách, hiện nay chúng ta cần tìm ra các cách thức nhằm công nhận chính thức loại hình học tập không chính quy này. Điều đó không chỉ giúp tăng cường nguồn lực sẵn có để hỗ trợ học tập không chính quy, mà còn thể hiện sự tôn trọng đối với người học qua đó góp phần thúc đẩy việc thực hiện các SDGs.
Thông tin về tác giả
Giáo sư Bruce Wilson là Giám đốc Trung tâm Xuất sắc Liên minh Châu Âu tại RMIT từ năm 2010, lãnh đạo các hoạt động nghiên cứu và tranh luận về quan hệ giữa Liên minh Châu Âu và Australia, thúc đẩy sự dịch chuyển của cán bộ và sinh viên, đồng thời xây dựng các quan hệ đối tác giữa các trường đại học và tổ chức của Australia với các đối tác châu Âu. Trong thập kỷ qua, ông đã tham gia nhiều nghiên cứu liên quan đến sự tham gia của Liên minh Châu Âu tại khu vực Châu Á – Thái Bình Dương, bao gồm các dự án lớn về EU và việc thực hiện các Mục tiêu Phát triển Bền vững (SDGs); tầm quan trọng của việc xây dựng năng lực hệ thống đổi mới dựa trên địa phương tại các huyện, thành phố và vùng lãnh thổ; cũng như thương mại giữa EU và Australia. Ông đã thường xuyên công bố các công trình về những chủ đề này, bao gồm cả các cuộc đàm phán thương mại EU – Australia. Ông cũng đã trình bày các bài phát biểu quan trọng tại các diễn đàn của Trung tâm Nghiên cứu Chung thuộc Liên minh Châu Âu về Chuyên môn hóa Thông minh và đổi mới dựa trên địa phương, đồng thời là đồng tổng biên tập của Australasian Journal of Regional Studies (2015–2018, 2021–2022).
Tài liệu tham khảo
Belete, S., Duke, C., Hinzen, H., Owusu-Boampong, A., & Phuoc K. H. (2022). Community learning centres (CLCs) for adult learning and education (ALE): Development in and by communities. International Review of Education, 68(2), 259–290. https://doi.org/10.1007/s11159-022-09954-w
Benavot, A., Hoppers, C.O., Stepanek Lockhart, A., & Hinzen, H. (2022). Reimagining adult education and lifelong learning for all: Historical and critical perspectives. International Review of Education 68(2), 165–194. https://doi.org/10.1007/s11159-022-09955-9
Denholm, J., Hinzen, H., Khau, P., & Németh, B. (Eds) (2022). Special issue on CONFINTEA. PIMA Bulletin, 44. https://www.pimanetwork.com/post/bulletin-special-issue-confintea-vii
Duke, C., & Hinzen, H. (Eds) (2022). Global collaboration and advocacy for adult learning: Contributions of a civil society network. [CR&DALL Working Paper, WP901/2022]. Glasgow: University of Glasgow. https://cradall.org/sites/default/files/wp_901_22.pdf
ICFE (International Commission on the Futures of Education) (2021). Reimagining our futures together: A new social contract for education. UNESCO. https://unesdoc.unesco.org/ark:/48223/pf0000379707
Kando, R. (2024). Strengthening the Marginalized Communities in Palestine through Civic Education Approaches. CONVERGENCE, 45(1), 3–12. https://www.convergencejournal.org/vol-45-no-1.pdf
UIL (2022). CONFINTEA VII, Marrakech framework for action: Harnessing the transformational power of adult learning and education. UIL. https://unesdoc.unesco.org/ark:/48223/pf0000382306
Tài nguyên
https://www.uil.unesco.org/en/articles/confintea-vii-follow-meeting-europe
https://www.dvv-international.de/en/materials/global-processes-and-policy-documents/confintea
Bài viết được trích dịch từ PIMA Bulletin số 51, tháng 9, 2024.